Công Khai Đi

Dự án sông Hồng và cái giá của tăng trưởng: Khi tầng lớp trung lưu đô thị trở thành người phải hy sinh

Trong nhiều năm, khu vực ven sông Hồng tại Hà Nội tồn tại như một không gian đặc biệt của thành phố. Đó không chỉ là nơi sinh sống của hàng chục nghìn hộ dân, mà còn là một phần ký ức đô thị, một vùng chuyển tiếp giữa trung tâm chính trị – hành chính với đời sống bình dân của những người đã bám trụ ở đó qua nhiều thế hệ. Nhưng giờ đây, toàn bộ khu vực này đang đứng trước nguy cơ bị giải tỏa trên quy mô chưa từng có, nhường chỗ cho các đại dự án đô thị và hạ tầng được định giá lên tới hàng chục tỷ đô la.

Trên giấy tờ, đây được giới thiệu là một “siêu dự án chỉnh trang đô thị”, chống ngập, phát triển không gian xanh và hiện đại hóa thủ đô. Nhưng đằng sau những khẩu hiệu phát triển ấy là một câu hỏi lớn hơn: ai thực sự được hưởng lợi từ quá trình này, và ai là người phải trả giá?

Những gì đang diễn ra dọc hai bên bờ sông Hồng cho thấy đây không đơn thuần là một dự án hạ tầng. Nó phản ánh một mô hình phát triển đang ngày càng phổ biến dưới thời Tổng Bí thư Tô Lâm: sử dụng các đại dự án để thúc đẩy tăng trưởng bằng mọi giá, đồng thời mở rộng không gian cho các tập đoàn bất động sản thân hữu tiếp cận quỹ đất có giá trị cực cao.

Trong bối cảnh chính quyền đặt mục tiêu tăng trưởng trên 10% trong những năm tới, đất đai một lần nữa trở thành công cụ quan trọng nhất để tạo tăng trưởng nhanh. Và cũng như nhiều lần trước trong lịch sử phát triển đô thị Việt Nam, nhóm chịu tác động đầu tiên là người dân.

Điều đáng chú ý ở dự án sông Hồng là đối tượng bị ảnh hưởng không chỉ là người nghèo hay dân cư ngoại thành, mà ngày càng bao gồm cả tầng lớp trung lưu đô thị. Nhiều gia đình đã sống ổn định hàng chục năm, sở hữu nhà cửa, cơ sở kinh doanh, mạng lưới xã hội và sinh kế tại khu vực ven sông nay đối mặt với khả năng bị di dời với mức đền bù thấp hơn rất xa giá trị thương mại thực tế của đất đai sau quy hoạch.

Đây chính là nghịch lý lớn nhất của mô hình phát triển hiện nay.

Giá trị của khu đất tăng lên nhờ quyết định quy hoạch của nhà nước và nhờ chính cộng đồng dân cư đã tồn tại ở đó suốt nhiều thập kỷ. Nhưng khi dự án bắt đầu, phần lớn giá trị tăng thêm lại được chuyển sang tay các nhà đầu tư bất động sản – những doanh nghiệp có quan hệ gần gũi với quyền lực chính trị và được trao quyền khai thác các khu đất vàng mới hình thành.

Người dân mất đất nhận được một khoản đền bù mang tính hành chính; còn doanh nghiệp nhận được cơ hội biến đất ven sông thành các khu đô thị cao cấp, trung tâm thương mại và dự án nhà ở có giá trị thương mại khổng lồ.

Đây không còn là câu chuyện phát triển đô thị thông thường. Nó là sự tái phân phối tài sản quy mô lớn từ cư dân đô thị sang các liên minh giữa chính quyền và giới phát triển bất động sản.

Nếu nhìn rộng hơn, mô hình này phản ánh sự thay đổi sâu sắc trong cách nhà nước Việt Nam tiếp cận tăng trưởng kinh tế sau Đại hội XIV. Trong “Kỷ nguyên Mới” của ông Tô Lâm, tăng trưởng nhanh được xem là ưu tiên tối cao. Để đạt được mục tiêu đó, chính quyền cần những đại dự án có khả năng tạo ra dòng vốn, kích thích xây dựng, mở rộng tín dụng và thúc đẩy thị trường bất động sản.

Nhưng vấn đề là tăng trưởng dựa trên đất đai luôn đi kèm với rủi ro tham nhũng chính sách cực lớn.

Khi giá trị đất phụ thuộc vào quyết định quy hoạch, bất kỳ ai có khả năng ảnh hưởng tới quy hoạch đều có quyền lực kinh tế khổng lồ. Chính vì vậy, mối quan hệ giữa các tập đoàn bất động sản và giới chức chính trị trở thành yếu tố trung tâm của nền kinh tế. Không phải năng lực sản xuất hay đổi mới công nghệ, mà quyền tiếp cận đất đai mới là nguồn tạo lợi nhuận lớn nhất.

Trong bối cảnh đó, các đại dự án như ven sông Hồng không chỉ là dự án hạ tầng. Chúng là công cụ chuyển hóa quyền lực chính trị thành lợi ích kinh tế.

Điều khiến nhiều người lo ngại là quá trình này đang diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh, trong khi các cơ chế bảo vệ quyền lợi người dân lại rất yếu. Việc tham vấn cộng đồng thường mang tính hình thức. Các thông tin về quy hoạch, giá đất và đối tác đầu tư thiếu minh bạch. Người dân gần như không có khả năng thương lượng thực sự khi đối diện với quyết định thu hồi đất.

Nhiều cư dân bị ảnh hưởng không phản đối việc phát triển đô thị. Điều họ phản đối là cách phát triển ấy diễn ra: thiếu minh bạch, thiếu công bằng, và đặt lợi ích của các nhà phát triển bất động sản lên trên lợi ích của cộng đồng đã tồn tại ở đó từ lâu.

Trong nhiều trường hợp, khoản đền bù mà người dân nhận được không đủ để họ tiếp tục duy trì cuộc sống trong cùng khu vực đô thị. Họ bị đẩy xa khỏi trung tâm, mất mạng lưới kinh doanh, mất cơ hội việc làm và mất cả môi trường xã hội quen thuộc. Trong khi đó, những khu đất họ từng sống sẽ trở thành các dự án cao cấp mà chính họ không bao giờ có khả năng tiếp cận.

Quá trình này đang tạo ra một dạng bất bình đẳng mới trong lòng các thành phố lớn của Việt Nam: tầng lớp trung lưu và bình dân đô thị dần bị loại khỏi những không gian có giá trị cao, nhường chỗ cho các dự án phục vụ nhóm thu nhập cao và giới đầu tư.

Đây là mô hình từng xuất hiện ở nhiều quốc gia đang phát triển, nơi tăng trưởng đô thị được thúc đẩy thông qua liên minh giữa chính quyền và các tập đoàn bất động sản. Nhưng ở Việt Nam, rủi ro lớn hơn nằm ở chỗ thiếu vắng các cơ chế kiểm soát độc lập. Không có báo chí điều tra mạnh để theo dõi các thương vụ đất đai lớn. Không có tòa án độc lập để người dân khởi kiện hiệu quả. Và cũng không có các tổ chức xã hội dân sự đủ mạnh để đại diện cho cộng đồng bị ảnh hưởng.

Điều đó khiến quyền lực quy hoạch gần như tuyệt đối.

Những người ủng hộ các siêu dự án thường lập luận rằng mọi quốc gia phát triển đều phải trải qua các cuộc cải tổ đô thị lớn và rằng hy sinh là điều khó tránh khỏi. Nhưng vấn đề không nằm ở việc có phát triển hay không. Vấn đề nằm ở việc ai được quyền quyết định tương lai của thành phố và lợi ích từ quá trình phát triển được phân chia như thế nào.

Nếu phần lớn lợi ích tiếp tục tập trung vào các tập đoàn thân hữu có quan hệ gần gũi với quyền lực chính trị, còn người dân chỉ nhận phần nhỏ trong giá trị mà chính đất đai của họ tạo ra, thì sự bất mãn xã hội sẽ ngày càng tích tụ.

Dự án sông Hồng vì thế không chỉ là câu chuyện quy hoạch. Nó là bài kiểm tra lớn cho mô hình phát triển của Việt Nam trong giai đoạn mới.

Một mô hình có thể tạo ra tăng trưởng rất nhanh trong ngắn hạn, nhưng cũng có nguy cơ đẩy xã hội vào một chu kỳ bất bình đẳng sâu hơn, nơi tài sản công và không gian đô thị tiếp tục được chuyển hóa thành lợi ích cho một nhóm nhỏ có quyền tiếp cận với trung tâm quyền lực.

Và khi điều đó diễn ra dưới danh nghĩa “phát triển”, phản kháng của người dân sẽ ngày càng khó được lắng nghe hơn.

Exit mobile version